Quý khách đang xem: Du khách > Các điểm tham quan > Di tích lịch sử

Di tích lịch sử

Cơ sở in ấn của Hội Ủng hộ Vệ quốc đoàn

Nhắc đến hầm bí mật được xây dựng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp ở nội thành Sài Gòn, ắt hẳn trong mỗi chúng ta không thể quên cái tên Hầm bí mật của Hội Ủng hộ Vệ quốc đoàn. Hiện nay, căn hầm này tọa lạc tại số 122/351 đường Ngô Gia Tự, phường 9, quận 10. Đây là một trong những căn hầm thiết kế tinh vi nhất ở khu vực nội thành vào năm 1954 được Bộ Văn hóa – Thông tin xét duyệt và cấp bằng công nhận di tích lịch sử theo Quyết định số 1288-VH/QĐ ngày 16 tháng 11 năm 1988.

Vào giữa năm 1951, Hội Ủng hộ Vệ quốc đoàn đã tiến hành xây dựng hoàn chỉnh một hầm bí mật tại số 23/122 đường Ngô Tùng Châu (nay là đường Nơ Trang Long – quận Bình Thạnh) gọi là hầm A. Tuy nhiên, giao liên từ đây vào nội thành gặp rất nhiều khó khăn do phải qua nhiều trạm gác của địch. Vì vậy, Ban chấp hành Hội quyết định chọn khu vực trung tâm thành phố để xây dựng một căn hầm bí mật, đó là xóm Vườn Lài.

Tháng 02/1952, gia đình Hội viên Hà Minh Lân được phân công nhiệm vụ quản lý căn hộ số 122/351 đường Minh Mạng (nay là đường Ngô Gia Tự). Đây là một căn nhà gỗ, vách ván, lợp lá, diện tích: 62m2 (6,2m x 10m) nằm trong khuôn viên với chiều rộng 12m, chiều dài 35m được bao quanh bởi lớp rào tre. Căn nhà này được sử dụng làm tiệm đàn, ngoài ra còn chòi nhỏ có diện tích 4,5m2 (2,5m x 1,8m) thuộc dạng nhà tranh vách lá nằm sát lề đường Minh Mạng. Căn chòi chứa vật liệu thô làm đàn nhưng thực chất là sử dụng làm trạm gác.

Chủ hộ Hà Minh Lân cho ngăn đôi căn nhà một phần để ở và phần còn lại làm tiệm đàn. Gỗ và dụng cụ làm đàn được chất đầy nhà nhằm qua mắt địch. Rút kinh nghiệm từ việc đào hầm A, căn hầm lần này được thiết kế gồm: hầm phụ và hầm chính. Thoạt đầu, miệng hầm được thiết kế vừa một người chui, sau đó đào sâu 2m, tán rộng xuyên hông thành vòng tròn, tạo một cột đất ở giữa có đường kính 1m nhằm giữ bề mặt trên đất.

Để tránh tiếng động và dễ đào, người đào hầm phải thường xuyên đổ nước vừa đủ để đất ẩm. Dụng cụ đào gồm: xà-beng bản lớn, cuốc ngắn sắc, ky (loại rổ đan bằng tre buộc dây luộc). Thời gian bắt đầu đào là khoảng nửa đêm khi căn chòi treo đèn báo tín hiệu. Lượng đất đào đưa lên miệng hầm bằng ky, sau đó được chuyển ngay bằng xe ô tô.

Theo thiết kế, hầm chính đào trước, dài 3,5m, ngang 3,2m, cao 1,7m, độ dày nóc hầm 1,8m. Hầm được xây dựng rất công phu bởi có thả đà chịu lực bên trên nóc, tường và nền trát xi-măng chống thấm. Một giếng nước đào cách hầm 2m. Cách miệng giếng 0,5m có lỗ thông hơi, đường kính 10cm thông qua hầm chính nhằm tạo không khí trong hầm.

Sau khi hoàn thành xong hầm chính, bắt đầu đào ngược lên hầm phụ. Nối liền hầm chính và hầm phụ có địa đạo ngắn chỉ dài độ 1,2m, đường kính 0,45m. Cửa địa đạo nối hầm phụ thiết kế rất tinh vi. Đó là nắp cửa có bản lề đóng mở, mặt trước trét xi-măng khớp với vách, kích thước 0,35m x 0,4m vừa người chui qua. Nắp địa đạo ở hầm phụ được ngụy trang một kệ sách. Hầm phụ có kích thước dài 3,4m, ngang 0,6m, cao 0,8m, bề dày nóc 1,8m.

Trên miệng hầm nghi trang tủ đựng quần áo gồm có hai buồng, che khuất miệng hầm (do đáy tủ sát nền). Dưới đáy tủ bên buồng treo áo dài là mảnh ván không đóng chốt, có thể lùa sang bên để lộ khoảng trống. Muốn xuống hầm, đẩy mảnh ván đáy tủ sang bên, mở nắp hầm, bước thẳng người. Sau đó người bên trên đóng nắp hầm, kéo đáy tủ lại.

Phía bên dưới hầm chính, Hội Ủng hộ Vệ quốc đoàn tháo riêng từng bộ phận của máy in Gestetner, máy đánh chữ để mang xuống hầm cùng một số giấy, mực in, máy radio, bàn ghế, đèn điện và hệ thống báo động qua đèn chớp tắt. Hầm bí mật xây dựng hoàn thành được Hội Ủng hộ Vệ quốc đoàn gọi là hầm B.

Đầu tháng 7/1952, ông Lê Phiếm (Ban Tuyên huấn đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn) và Tô Minh Liêm (Tổng thư ký Hội Ủng hộ Vệ quốc đoàn) kiểm tra hầm lần cuối và đưa vào sử dụng làm cơ sở in ấn của Hội Ủng hộ Vệ quốc đoàn theo yêu cầu cấp trên. Chị Nhãn (vợ Tô Minh Liêm) đã đưa một số mực in của xưởng Impere - Portage (Mai Văn Bộ) về tích trữ dưới hầm. Ban quản trị của Hội Ủng hộ Vệ quốc đoàn lúc này gồm:

  • Trần Thuận Hóa - Hội trưởng;
  • Nguyễn Thế Hùng - Hội phó;
  • Tô Minh Liêm - Tổng thư ký kiêm Bí thư chi bộ;
  • Đỗ Hữu Vân - Phó Tổng thư ký;
  • Nguyễn Đông Du - Thủ quỹ;
  • Luật sư Thái Văn Lung (đã hy sinh).

Những hội viên nòng cốt được phân công luôn túc trực dưới hầm nhằm theo dõi tin tức thu từ đài phát thanh Hà Nội để biên tập lại, sau đó cho in thành truyền đơn hoặc sao chép tài liệu học tập nhằm phổ biến trong nội bộ. Các tài liệu từ chiến khu An Phú Đông mang về, sau khi in ấn xong được bí mật đem đến hàng trăm cơ sở trong thành phố.

Tháng 11/1954, Đặc khu Sài Gòn - Gia Định và Tỉnh ủy Gia Định triển khai nhiều Nghị quyết đẩy mạnh phong trào quần chúng đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, Bảo vệ hòa bình, Hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước, đòi quyền Dân sinh... Bộ phận in, ấn tại Hầm bí mật người tham gia đánh máy, người in ấn liên tục ngày đêm.

Bên cạnh đó, các Hội viên bí mật thu gom từng viên thuốc chuyển đến hầm để đưa ra chiến khu. Cũng đôi lần các Hội viên chuyển hóa chất về theo yêu cầu cấp trên. Đến cuối năm 1957 một cơ sở của Hội trong nội thành bị địch phát hiện, vì vậy mọi liên hệ với Hầm bí mật tại số 122/351 đường Ngô Gia Tự bị cắt đứt. Các đồng chí làm nhiệm vụ tại hầm phân tán mỏng để bảo toàn lực lượng.

Trước tình hình chính trị căng thẳng, Đặc khu Sài Gòn - Gia Định quyết định giải thể Ban ấn loát tại số 122/351 đường Ngô Gia Tự. Ban quản trị Hội thống nhất ý kiến lấp hầm nhưng vì dùng đất khó thực hiện nên dùng khạp (lu da bò) lấp hầm. 90 khạp được sử dụng lấp hầm có dung tích: cao 0,7m, đường kính 0,5m, trong thời gian một tháng.

Đầu năm 1958, bọn mật thám ập đến tiệm đàn bao vây bắt một số đồng chí trong Hội. Riêng Hà Minh Lân bị bắt khi đang đi trên đường Cống Quỳnh. Chúng tra tấn hết sức dã man nhưng tất cả đều giữ vững lời thề "thà chết để bảo vệ hầm". Vì không khai thác được thông tin gì nên một số đồng chí bị tù đày:

  • Trần Thị Cúc - bị đày 3 năm;
  • Dương Thị Linh - bị đày 18 tháng (đã hy sinh);
  • Đặng Thị Hoa (Nhãn) - bị giam 12 tháng;
  • Trần Văn Nam (Trung) - bị giam 18 tháng;
  • Tô Minh Liêm (Mười Lợi) - bị đày 5 năm;
  • Tô Minh Trực (Bút) - bị đày 7 năm;
  • Vũ Văn Chí (Tư Hà) - bị đày 10 năm tại Côn Đảo;
  • Hoàng Minh Khánh (Lân) - bị đày 15 năm.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng 30/4/1975, công trình Hầm bí mật của Hội Ủng hộ Vệ quốc đoàn được trùng tu lại. Toàn bộ khạp da bò dưới hầm được mang lên. Địa đạo, hầm phụ và hầm chính được tôn tạo. Những dấu vết thời kỳ chiến đấu oanh liệt của các chiến sĩ trong Hội Ủng hộ Vệ quốc đoàn được khôi phục nguyên vẹn.

Mỹ Xuân


Các Di tích lịch sử khác